Hộ gia đình đồng thời là chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu khi nào?

26/04/2022

Hộ gia đình đồng thời là chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu khi nào? Vì sao UBND thị xã, huyện không cho phép hộ gia đình lên đất ở? Làm thế nào để sang tên sổ đỏ hộ gia đình khi có người không đồng ý?

    • Hộ gia đình đồng thời là chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu khi nào?
      (ảnh minh họa)
    • Hộ gia đình đồng thời là chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu khi nào?

      Hộ gia đình là chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu khi nào? Nhờ tư vấn.

      Trả lời:

      Khoản 1 Điều 32 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 15 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP có quy định:

      Chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu theo quy định sau đây:

      Hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư phải có một trong các loại giấy tờ sau:

      a) Giấy phép xây dựng công trình hoặc giấy phép xây dựng công trình có thời hạn đối với trường hợp phải xin phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

      Trường hợp công trình đã xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép không ảnh hưởng đến an toàn công trình và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

      - Giấy tờ về sở hữu công trình xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ, trừ trường hợp Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng;

      - Giấy tờ mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế công trình xây dựng theo quy định của pháp luật đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định;

      - Giấy tờ của Tòa án nhân dân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu công trình xây dựng đã có hiệu lực pháp luật;

      - Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế công trình xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 có chữ ký của các bên có liên quan và được Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên xác nhận; trường hợp mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế công trình xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế công trình xây dựng đó.

      Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu công trình có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c, và d Khoản này mà hiện trạng công trình không phù hợp với giấy tờ đó thì phần công trình không phù hợp với giấy tờ phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận như quy định tại Điểm e Khoản này;

      - Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản này thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận công trình đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và công trình được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng.

      Trường hợp công trình hoàn thành xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về công trình xây dựng không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; trường hợp công trình thuộc đối tượng phải xin phép xây dựng mà không xin phép thì phải có giấy tờ của cơ quan quản lý về xây dựng cấp huyện chấp thuận cho tồn tại công trình đó.

      Vì sao UBND thị xã, huyện không cho phép hộ gia đình lên đất ở?

      Gia đình tôi chuyển lên đất ở nhưng UBND thị xã Phú Mỹ trả lời không phù hợp quy hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2013 của cấp huyện phê duyệt là đất du lịch. Năm 2018, 2019 gia đình tôi đã đăng ký nhu cầu sử dụng đất hàng năm ở xã. Vào ngày 16/4/2019 UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu phê duyệt quy hoạch kế hoạch điều chỉnh công nhận là khu đất của gia đình tôi là đất ở nông thôn. Vậy, nhờ luật sư tư vấn tôi phải làm sao theo luật để chuyển lên đất ở. Công văn trả lời không cho chuyển lên đất ở của UBND thị xã Phú Mỹ có đúng luật quy định không? Xin chân thành cám ơn!

      Trả lời:

      Thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất ở:

      Căn cứ Điều 69 Nghị định 43/2014/NĐ-CPQuyết định 2555/QĐ-BTNMT năm 2017:

      Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ:

      Theo Khoản 1 Điều 6 Thông tư 30/2014/TT-BTNMT, hồ sơ gồm:

      - Đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất.

      - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ).

      Bước 2. Nộp hồ sơ:

      - Nộp hồ sơ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường

      Bước 3. Xử lý, giải quyết yêu cầu

      - Phòng Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ.

      Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian không quá 03 ngày làm việc phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ.

      Nếu hồ sơ đủ, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

      - Thẩm tra hồ sơ;

      - Xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất;

      - Thông báo và hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân nộp tiền;

      - Trình UBND cấp huyện quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

      - Chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

      Bước 4. Trả kết quả

      Phòng Tài nguyên và Môi trường trao quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sau khi cá nhân thực hiện nghĩa vụ tài chính.

      - Thời gian thực hiện (theo Khoản 40 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP):

      + Không quá 15 ngày (không kể thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất).

      + Không quá 25 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

      Căn cứ chuyển mục đích sử dụng đất:

      Theo Điều 52 Luật đất đai 2013 thì căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm:

      - Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

      - Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn chuyển mục đích sử dụng đất.

      Theo đó, ngoài nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất thì căn cứ để UBND thị xã Phú Mỹ cho phép hộ gia đình bạn lên đất ở hay không còn phụ thuộc vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm.

      Như vậy, nhu cầu lên đất ở của gia đình bạn có thể không phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2013 của UBND thị xã Phú Mỹ, nên cơ quan này không cho phép gia đình bạn lên đất ở là phù hợp với quy định pháp luật.

      Làm thế nào để sang tên sổ đỏ hộ gia đình khi có người không đồng ý?

      Sổ đỏ nhà tôi được cấp cho hộ gia đình do mẹ tôi là đại diện đứng tên. Nay mẹ tôi muốn sang tên sổ đỏ cho tôi nhưng một người còn lại không đồng ý. Vậy cho hỏi: Làm thế nào để sang tên sổ đỏ hộ gia đình khi có người không đồng ý? Cảm ơn!

      Trả lời:

      Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:

      1. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên.

      2. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.

      Khoản 5 Điều 14 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT cũng có quy định:

      Người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chỉ được thực hiện việc ký hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi đã được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.

      Như vậy, theo quy định trên thì việc sang tên đất của hộ gia đình phải được các thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất đồng ý bằng văn bản và văn bản đó đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật thì mới có giá trị. Vì vậy, trong trường hợp này mẹ bạn không thể một mình định đoạt tài sản chung của hộ. Gia đình bạn nên thỏa thuận thống nhất lại với nhau để tất cả các thành viên cùng đồng ý với việc sang tên này.

      Trân trọng!

    Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của LawNet . Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email: nhch@lawnet.vn

    Căn cứ pháp lý của tình huống
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn